QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI

bởi Apra Law

Ô nhiễm môi trường đã và đang là thách thức lớn không chỉ đối với Việt Nam mà còn là toàn thế giới. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là các loại chất thải nguy hại phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động phát triển của con người. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2016-2020 của Bộ tài nguyên và Môi trường, lượng chất thải nguy hại tại Việt Nam đang gia tăng một cách đáng lo ngại. Cụ thể, theo báo cáo của các địa phương, lượng chất thải nguy hại từ công nghiệp phát sinh trong năm 2019 khoảng 1.133.077 tấn (tăng 258.688 tấn so với năm 2018), tập trung chủ yếu ở các ngành công nghiệp nhẹ, luyện kim và hoá chất. Ngoài ra, một nguồn phát sinh chất thải nguy hại là từ các vụ vi phạm pháp luật trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên vật liệu sản xuất. Một số tổ chức, cá nhân lợi dụng việc nhập khẩu phế liệu đã đưa chất thải nguy hại chủ yếu là phế liệu kim loại, nhựa, săm lốp cao su thải, vỏ oto, tàu biển chưa làm sạch tạp chất, ắc quy chì thải, sản phẩm điện tử đã qua sử dụng (màn hình máy tính, bản mạch điện tử thải,..) về Việt Nam [tr.42]. Tại khu vực nông thôn, chất thải nguy hại phát sinh chủ yếu từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp (chai lọ đựng hoá chất bảo vệ thực vật); hoạt động chăm sóc thú y, dụng cụ tiêm, mổ). Theo báo cáo công tác bảo vệ môi trường của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2019, đã có 438.032 kg bao gói, chai đựng hoá chất bảo vệ thực vật sau sử dụng được thug om, trong đó đã tiêu huỷ 346.013 kg. Lượng thuốc bảo vệ thực vật còn bám lại trên vỏ, chai lọ hoặc gói hoá chất chiếm tới 1,85% tỷ trọng bao bì [tr.42]. Ngoài ra, tổng lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tren toàn quốc khoảng gần 24 nghìn tấn/năm (Số liệu 2020 của Bộ Y tế), một con số rất đáng kể. 

Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý chất thải nguy hại, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường đã có những bước phát triển mới, được thể hiện trước tiên bằng việc Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 và gần đây nhất là Luật bảo vệ môi trường 2020, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022. Với mục tiêu phát triển môi trường bền vững, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và 2020 đã đề cập đến các vấn đề nóng đang đặt ra trong công tác bảo vệ môi trường hiện nay như: Vấn đề ứng phó với biển đổi khí hậu; thúc đẩy tăng trưởng xanh; xây dựng quy hoạch môi trường; bổ sung quy định nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; cụ thể hóa trách nhiệm và quyền của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường…

Ngay sau khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được thông qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản pháp lý hướng dẫn thi hành, kịp thời phục vụ công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Trong đó, phải kể đến các văn bản sau đây: Nghị định số 114/2014/NĐ-CP ngày 26/11/2014 của Chính phủ quy định về đối tượng, điều kiện được phép nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng; Nghị định số 127/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định về điều kiện của tổ chức hoạt động quan trắc môi trường; Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính phủ quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường; Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị định số 60/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường…

Ngoài ra, các bộ cũng đã ban hành các quy định hướng dẫn thi hành các nội dung như: Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác lập kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường, quản lý chất thải nguy hại, ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoảng sản, nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp,… Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường cũng được rà soát, sửa đổi và ban hành đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn.

Tại các địa phương, nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch cũng đã được xây dựng và triển khai thực hiện, như các quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, thành phố; kế hoạch bảo vệ môi trường hàng năm và 05 năm; quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường trên địa bàn tỉnh, thành phố,… Hầu hết các địa phương đã ban hành các văn bản cụ thể hóa các chính sách, chiến lược, kế hoạch và tổ chức thực hiện tại địa phương nhằm chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Qua nhiều năm, về công tác quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam, Nhà nước ta đã từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý chất thải nguy hại, từ các quy định của luật cho đến các văn bản dưới luật như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định riêng Mục 2 Chương IX về quản lý chất thải nguy hại; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định riêng Chương II về quản lý chất thải nguy hại; Quy chế quản lý chất thải nguy hại (ban hành kèm theo Quyết định số 115/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ); Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ về thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ (thay thế Quyết định số 50/2013/QĐ-TTg); Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại… Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tham gia vào một số Công ước quốc tế về quản lý chất thải nguy hại như: Công ước Marpol (Việt Nam ký ngày 29/8/1991); Công ước Basel (Việt Nam phê chuẩn ngày 13/5/1995)…

Nội dung pháp luật về quản lý chất thải nguy hại bao gồm các quy định cụ thể từ việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển đến việc xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại. Đồng thời, cũng quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến chất thải nguy hại, từ các cơ quan quản lý nhà nước đến các tổ chức, cá nhân. Cụ thể:

– Chủ nguồn thải chất thải nguy hại phải lập hồ sơ về chất thải nguy hại và đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh. Nếu các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện về năng lực quản lý chất thải nguy hại thì được cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có thẩm quyền cấp giấy phép, mã số hoạt động quản lý chất thải nguy hại (Điều 90 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).

– Việc phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường theo hai cách: Chủ nguồn thải chất thải nguy hại phải tổ chức phân loại, thu gom hoặc hợp đồng chuyển giao cho bên tiếp nhận quản lý chất thải thu gom chất thải nguy hại. Chất thải nguy hại phải được lưu giữ trong phương tiện, thiết bị chuyên dụng bảo đảm không tác động xấu đến con người và môi trường (Điều 91 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).

– Việc xử lý chất thải nguy hại phải tiến hành bằng phương tiện, thiết bị chuyên dụng phù hợp và được ghi trong giấy phép xử lý chất thải nguy hại. Chất thải nguy hại được vận chuyển sang nước khác phải tuân thủ các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Điều 92 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).

Luật bảo vệ môi trường 2020 tiếp tục kế thừa các quy định của Luật bảo vệ môi trường 2014 về các vấn đề liên quan đến quản lý, xử lý, trách nhiệm của cá nhân và tổ chức trong quản lý chất thải nguy hại. Tuy nhiên, do thời gian có hiệu lực chưa lâu nên hệ thống các văn bản dưới luật còn hạn chế, chưa được cụ thể hoá, cần tiếp tục hoàn thiện và phát triển trong tương lai.

Trên đây là bài viết về “Quy định về quản lý chất thải nguy hại” của Công ty Luật TNHH Apra. Quý khách hàng còn thắc mắc về các vấn đề nêu trên và cần được giải đáp, vui lòng liên hệ số hotline để được tư vấn và hỗ trợ.

________________________________

Mọi thông tin yêu cầu tư vấn xin vui lòng liên hệ:

CÔNG TY LUẬT TNHH APRA

Địa chỉ: Tầng 7, số 57 Trần Quốc Toản, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Việt Nam.

Email: info@apra.vn

Hotline : 024.23486234 – 0948495885

 

Có thể bạn quan tâm

Để lại bình luận

0948 49 5885