Hiện nay, hoạt động M&A là hoạt động giành quyền kiểm soát doanh nghiệp thông qua hình thức sáp nhập hay mua lại một phần số cổ phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp khác. Mục đích của một thương vụ M&A không đơn thuần chỉ là sở hữu cổ phần mà nhằm mục đích tham gia và quyết định các vấn đề quan trọng, tác động đến hoạt động kinh doanh, hoạt động quản trị của doanh nghiệp bị sáp nhập hoặc mua lại. Dưới góc độ pháp lý, hoạt động M&A là một quy trình phức tạp, đòi hỏi chủ đầu tư cần có những hiểu biết và kiến thức nhất định trong lĩnh vực này. Liên quan đến hoạt động M&A, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, nhà đầu tư cần tìm hiểu và nắm bắt được các quy định khác nhau liên quan đến hệ thống pháp luật chuyên ngành như Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh, Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư…
Thứ nhất là, M&A theo Luật Doanh nghiệp năm 2020:
Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã đưa ra quy định về hợp nhất, sáp nhật là một trong năm hình thức tổ chức lại doanh nghiệp (Khoản 31 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020) xuất phát từ nhu cầu của các doanh nghiệp. Mặc dù, Luật Doanh nghiệp chưa đưa ra được định nghĩa rõ ràng về M&A nhưng đã có những quy định cụ thể liên quan đến hoạt động M&A đối với từng loại hình doanh nghiệp, cụ thể như sau:
Theo Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp. Theo đó, các tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào Công ty Cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty Hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, ngoại trừ các trường hợp sau:
– Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
– Đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức và Luật Phòng, chống tham nhũng.
Bên cạnh đó, còn có các quy định về chia công ty (Điều 198); tách công ty (Điều 199); hợp nhất công ty (Điều 200) và thủ tục, hồ sơ thực hiện sáp nhập công ty theo Điều 201 Luật Doanh nghiệp. Trong đó, Công ty trách nhiệm hữu hạn có quy định về mua lại phần vốn góp (Điều 51) và chuyển nhượng phần vốn góp theo Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020 và Công ty Cổ phần có quy định về bán cổ phần (Điều 126) và chuyển nhượng cổ phần theo Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020.
Tại Luật Doanh nghiệp đã chỉ rõ đối tượng sáp nhập, mua lại là công ty. Điều này đã giúp phân biệt rõ hơn với doanh nghiệp tư nhân khi thực hiện sáp nhập, mua lại mà có hình thức là bán doanh nghiệp theo Điều 198 Luật Doanh nghiệp 2020. Đồng thời, Luật Doanh nghiệp không đưa ra khái niệm mua lại doanh nghiệp, việc mua lại doanh nghiệp như là việc mua lại một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp hoặc cổ phần đã phát hành của thành viên hoặc cổ đông trong công ty. Điều này tuy không làm tăng vốn điều lệ của công ty nhưng có thể làm thay đổi cơ cấu sở hữu vốn góp hay cổ phần của công ty.
Thứ hai là, M&A theo Luật Canh tranh năm 2018:
Theo khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 29 Luật Cạnh tranh 2018 quy định:
– Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác. Đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
– Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới. Đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.
– Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại.
Luật Cạnh tranh quy định việc sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp và liên doanh giữa các doanh nghiệp là hành vi tập trung kinh tế. Do đó, việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp bị cấm trong trường hợp việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại này đã tạo ra thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế, gây tác động hoặc khả năng tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam (Điều 30).
Thứ ba là, M&A theo Luật Chứng khoán năm 2019:
Theo khoản 1 Điều 93 Luật Chứng khoán 2019 quy định việc tổ chức lại công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải được sự chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trước khi thực hiện.
Thứ tư là, M&A theo Luật Đầu tư năm 2020:
Theo khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư 2020 quy định đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh. Việc kinh doanh có thể được thực hiện thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Theo Điều 24 Luật Đầu tư 2020, nhà đầu tư có quyền mua góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế. Nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế nhưng phải đáp ứng các quy định, điều kiện của pháp luật.
Như đã đề cập ở trên, hoạt động M&A được quy định rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Ngoài ra, khi thực hiện hiện M&A còn phát sinh các vấn đề liên quan khác như thuế, kế toán, lao động, sở hữu trí tuệ…
Thứ năm là, M&A theo Luật Tổ chức tín dụng năm 2010:
Theo khoản 1 Điều 153 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định tổ chức tín dụng được tổ chức lại dưới hình thức chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.
Do tính chất phức tạp của M&A mà pháp luật về M&A không chỉ điều chỉnh các vấn đề về sở hữu hay quản trị doanh nghiệp mục tiêu mà còn đề cập đến các vấn đề liên quan như: đăng ký thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp, đăng ký về thủ tục M&A, các nghĩa vụ về thuế, xác định giá trị doanh nghiệp mục tiêu, pháp luật cạnh tranh để kiểm soát hoạt động M&A…
Nhìn chung, pháp luật Việt Nam hiện nay đã ghi nhận quyền được hợp nhất, sát nhập, mua lại doanh nghiệp và hợp tác xã của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Hoạt động M&A sẽ mang lại những nguồn đầu tư không nhỏ cho Việt Nam và nâng cao khả năng du nhập công nghệ về quản trị doanh nghiệp và sản xuất cho đất nước. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và cơ cấu lại các hoạt động kinh doanh, hoạt động M&A có thể mở rộng thêm cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam và tạo thế liên hoàn vững chắc cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
Trên đây là bài viết về “Một số quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động M&A” của Công ty Luật TNHH Apra. Quý khách hàng còn thắc mắc về các vấn đề nêu trên và cần được giải đáp, vui lòng liên hệ số hotline để được tư vấn và hỗ trợ.
________________________________
Mọi thông tin yêu cầu tư vấn xin vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH APRA
Địa chỉ: Tầng 7, số 57 Trần Quốc Toản, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Email: info@apra.vn
Hotline : 024.23486234 – 0948495885