QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

bởi Apra Law

Quan hệ vợ chồng có thể nói là mối quan hệ đặc biệt nhất, được hình thành giữa hai cá nhân, từ những cá thể khác biệt, xa lạ họ gắn bó với nhau hình thành lên một thực thể thống nhất. Mỗi một gia đình là một tế bào của xã hội, tác động và góp phần điều chỉnh mọi mặt của xã hội thông qua các mối quan hệ liên quan. Ngoài sự gắn kết trong thực tế chúng ta đã biết, quan hệ vợ chồng đối với tài sản chung sẽ được pháp luật điều chỉnh như thế nào? Bài viết này sẽ giúp chúng ta hiểu các quy định pháp luật về tài sản chung của vợ chồng khi tham gia quan hệ xã hội, giao dịch dân sự

Theo quy định tại điều 3, Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan có thẩm quyền thực hiện, nếu không đăng ký kết hôn theo quy định thì pháp luật sẽ không thừa nhận việc kết hôn đó kể cả đối với trường hợp vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng.      

Đại diện vợ chồng trong quan hệ kinh doanh và khi xác lập tài sản chung 

Vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà pháp luật quy định phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. 

Vợ chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.

Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, đặc biệt là việc xác lập, thực hiện chấm dứt giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Thỏa thuận này phải lập văn bản. 

Quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản chung giữa vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng thì giao dịch đó vô hiệu. 

Trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải đảm bảo chỗ ở cho vợ chồng.

Việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp: Bất động sản; Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau:

Thứ nhất: Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng  cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm

Thứ hai: Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

Thứ ba: Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

Thứ tư: Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình

Thứ năm: Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường 

Quyền, nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng của vợ hoặc chồng

Tài sản riêng của vợ hoặc chồng bao gồm:

  • Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn
  • Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
  • Tài sản được chia riêng cho vợ chồng
  • Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng 
  • Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ chồng

Vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó.

Vợ chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

Thứ nhất: Nghĩa vụ của mỗi bên vợ chồng có trước khi kết hôn

Thứ hai: Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu sử dụng, định đoạt tài sản riêng trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ chồng

Thứ ba: Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình

Thứ tư: Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng

Phân chia tài sản chung, riêng của vợ, chồng

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. Thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất: Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

Thứ hai: Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ: Cấp dưỡng, nuôi dưỡng, bồi thường thiệt hại, thanh toàn khi bị Tòa án tuyên bố phá sản, trả nợ cho cá nhân, tổ chức, nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác…

Trên đây là bài viết tư vấn về “Quy định pháp luật về tài sản chung của vợ chồng” của Công ty Luật TNHH Apra. Quý khách hàng còn thắc mắc về các vấn đề nêu trên và cần được giải đáp, vui lòng liên hệ số hotline để được tư vấn và hỗ trợ.

_________________________________

Mọi thông tin yêu cầu tư vấn xin vui lòng liên hệ :

CÔNG TY LUẬT TNHH APRA

Địa chỉ: Tầng 7, số 57 Trần Quốc Toản, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Việt Nam.

Email: info@apra.vn

Hotline : 024.23486234 – 0948495885

Có thể bạn quan tâm

Để lại bình luận

024 234 86 234