Việc xác định những đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu cho phép cá nhân , tổ chức nào cũng có quyền làm đơn ra toà yêu cầu tuyên bố phá sản thì khó có thể tránh được sự lạm dụng cơ hội này để hạ uy tín hoặc gây khó khăn cho các đối thủ cạnh tranh của mình . Ngược lại, nếu hạn chế quyền này một cách quá đáng , tùy tiện, không dựa trên cơ sở khoa học nào thì hậu quả sẽ là làm cho việc giải quyết phá sản khó bị phát hiện, ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà kinh doanh có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp mắc nợ . Vì vậy , pháp luật phá sản của Việt nam quan tâm giải quyết vấn đề này nhằm tạo ra một hành lang pháp lí phù hợp và thuận lợi cho tất cả các bên liên quan.
Các chủ thể có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định tại điều 5 Luật phá sản 2014. Trong đó có hai nhóm là những chủ thể có quyền và những chủ thể có nghĩa vụ.
Thứ nhất, nhóm chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Đối với chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần
Khoản 1 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định:
“Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán”
Một lẽ tất nhiên phù hợp với thông lệ quốc tế, chủ nợ bao giờ cũng là chủ thể đầu tiên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố phá sản một doanh nghiệp .
Tiếp thu kinh nghiệm xây dựng Luật phá sản ở các nước, Luật phá sản Việt nam chia chủ nợ thành 3 loại theo Điều 4 Luật Phá sản 2014:
+ Chủ nợ có bảo đảm: Là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm toàn bộ bằng tài sản của con nợ thông qua các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng như thế chấp, cầm cố…
+ Chủ nợ có bảo đảm một phần: Là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của con nợ nhưng trị giá tài sản đó ít hơn trị giá khoản nợ. Thí dụ doanh nghiệp X vay của Ngân hàng Công thương số tiền 3,5 tỷ đồng nhưng lại thế chấp bằng trụ sở và nhà xưởng trị giá 3 tỷ đồng.
+ Chủ nợ không có bảo đảm: Là chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của con nợ.
Tuy nhiên, không phải tất cả các chủ nợ đều có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản mà chỉ có chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần mới có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Với lập luận rằng chủ nợ có bảo đảm luôn là người nắm đằng chuôi bởi họ đã được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã con nợ hay bảo lãnh của bên thứ ba, nên luật phá sản không quy định cho chủ nợ có bảo đảm quyền đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản.
Trước đây, luật Phá sản 2004 quy định chủ nợ chỉ cần “ nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản” là có thể nộp đơn yêu cầu. Tuy nhiên, hiện nay theo Luật 2014 quy định sau 3 tháng khi nợ đến hạn mà con nợ không trả được nợ chủ nợ mới có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Điều này giúp cho doanh nghiệp, hợp tác xã có thêm thời gian để phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp cho việc nhìn nhận thủ tục phá sản nhẹ nhàng hơn, đồng thời khắc phục tình trạng lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ.
Về cách thức của đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ được quy định cụ thể tại Điều 26 Luật Phá sản 2014.
Đối với cổ đông, nhóm cổ đông, thành viên hợp tác xã
Theo khoản 5 điều 5 Luật Phá sản 2014 quy định:
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định.
Cổ đông là người mua cổ phần để góp vốn vào công ty cổ phần . Cổ đông là chủ thể của quyền tài sản, do vậy lợi ích của cổ đông gắn liền với lợi ích của công ty. Khi công ty lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán đồng nghĩa với lợi ích, tài sản của cổ đông rơi vào trạng thái nguy hiểm. Do vậy , quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông, nhóm cổ đông trong công ty cổ phần.
Theo khoản 6 Điều 5 Luật Phá sản 2014 thì Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Thành viên hợp tác xã hoặc hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã đều là những chủ thể có lợi ích gắn chặt với sự tồn vong của hợp tác xã. Do vậy, khi hợp tác xã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, thành viên có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để bảo vệ lợi ích của mình.
Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này là thời điểm công ty cổ phần, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, tức là công ty cổ phần, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Thứ hai, chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Có hai chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Khoản 3 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định:“người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán”.
Như vậy, đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì việc nộp đơn không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ. Người nộp đơn phải là người đại diện hợp pháp. Khi nhận đơn, Thẩm phán phải kiểm tra tính hợp pháp của đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như của người đại diện ký đơn. Ngoài đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với chính doanh nghiệp, hợp tác xã, người nộp đơn phải gửi kèm theo đơn các giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 3 Điều 28 Luật Phá sản 2014.
Hơn ai hết, doanh nghiệp mắc nợ phải biết rõ tình trạng tài chính của mình, do đó pháp luật cho phép người đại diện của doanh nghiệp tự đệ đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Đây vừa là quyền tự chủ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa là nghĩa vụ đối với xã hội. Quy định này nhằm giúp doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ có cơ sở để tự giải thoát mình khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán,giải quyết một cách hợp pháp các quan hệ nợ nần hoặc dưới dự giám sát của Tòa án,doanh nghiệp hợp tác xã mắc nợ có thể cùng với các chủ nợ thỏa thuận các biện pháp hòa giải, tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế thiệt hại.
Riêng nhóm chủ thể thứ hai chỉ áp dụng cho đối tượng là doanh nghiệp. vì thành viên chỉ ở các loại hình doanh nghiệp mới xuất hiện các chủ thể trên. ở Hợp tác xã thì chỉ có thành viên hợp tác xã và hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã, các chủ thể này đã được quy định có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại Khoản 6 Điều 5 Luật này.
Tuy nhiên, trên thực tế, một số doanh nghiệp không chấp hành nghĩa vụ này. Sở dĩ như vậy là vì nhiều doanh nghiệp khi thành lập đã kê khai vốn điều lệ lớn nhưng chủ yếu là vốn ảo hoặc quá trình hoạt động có nhiều giao dịch chuyển tài sản không rõ ràng… Nếu doanh nghiệp nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, khả năng cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra lại quá trình hoạt động và phát hiện ra nhiều sai phạm, thì người góp vốn hay người điều hành phải chịu trách nhiệm pháp lý hoàn toàn có thể xảy ra . Điều này gây ra tâm lí ái ngại, lảng tránh việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các chủ doanh nghiệp.
Thứ ba, chủ thể có quyền, nghĩa vụ nộp đơn mở thủ tục phá sản của tổ chức tín dụng
Thực tế cho thấy, ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác được coi là các doanh nghiệp đặc biệt bởi những đặc điểm như: các tổ chức này hoạt động với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế với cách thức hoạt động là có thể có rất nhiều tài khoản phục vụ cho hoạt động của mình và đồng thời phải quản lý một số lượng tài khoản hết sức lớn của khách hàng, khả năng tác động của sự đổ vỡ của một tổ chức tín dụng đến nền kinh tế chung sẽ diễn ra nhanh, ảnh hưởng rộng và tác động lâu dài . Do vậy, việc phá sản ngân hàng, các tổ chức tín dụng cũng cần có một cơ chế đặc biệt và thận trọng hơn so với các doanh nghiệp thông thường khác.
Khác với các doanh nghiệp, hợp tác xã thông thường, theo điều 98 Luật Phá sản 2014, các chủ thể có quyền nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán. Quy định này thể hiện sự phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng 2010. Quy định trên đây sẽ tránh được trường hợp tổ chức tín dụng bị nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi chưa thực sự mất khả năng thanh toán, gây tâm lí hoang mang, ảnh hưởng tới sự hoạt động của các tổ chức tín dụng khác. Điều này cũng thể hiện vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng khi luôn muốn duy trì tình trạng ổn định, an toàn cho nền tài chính quốc gia, lợi ích cho người dân.
Theo khoản 1 Điều 98 Luật Phá sản 2014, các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chủ nợ, người lao động, cổ đông của công ty cổ phần, thành viên hợp tác xã theo quy định tại các khoản 1,2,5,6 của Luật Phá sản 2014. Đây là những chủ thể có lợi ích gắn liền với tổ chức tín dụng, khi quyền lợi của họ bị xâm hại thì họ có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng.
Theo khoản 2 Điều 98 Luật Phá sản 2014, tổ chức tín dụng có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sau khi các biện pháp phục hồi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không có tác dụng. Người đại diện theo pháp luật của tổ chức tín dụng sẽ tự tay đệ đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, từ đó có thể giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán và xử lí nợ nần. Điều này sẽ giảm gánh nặng cho Ngân hàng nhà nước, không phải lo ôm đồm và giải quyết hậu quả cho các tổ chức làm ăn thua lỗ. Nếu tổ chức tín dụng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nộp đơn yêu cầu đối với tổ chức tín dụng đó theo khoản 2 Điều 98 Luật Phá sản 2014.
Trên đây là bài viết tư vấn về “Bình luận các quy định pháp luật về chủ thể nộp đơn yêu cầu thủ tục phá sản” của Công ty Luật TNHH Apra. Quý khách hàng còn thắc mắc về các vấn đề nêu trên và cần được giải đáp, vui lòng liên hệ số hotline để được tư vấn và hỗ trợ.
_________________________________
Mọi thông tin yêu cầu tư vấn xin vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH APRA
Địa chỉ: Tầng 7, số 57 Trần Quốc Toản, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Email: info@apra.vn
Hotline: 024.23486234 – 0948495885